Tìm hiểu về danh hiệu QTĐS và ĐC.QTĐS trong cờ tướng

Chức danh Quốc Tế Đại Sư tương đương với Kiện tướng quốc tế (International Master) và chức danh Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư (có khi được gọi là Quốc Tế Kỳ Sư) tương đương với Đại kiện tướng quốc tế (International Grand Master). Đó là những danh hiệu gọi theo tiếng Hán của người Trung Quốc. Tuy nhiên, khi phong cấp cho kỳ thủ quốc tế thì đều dùng tiếng Anh (IM, IGM) để phong cấp giống như trong cờ vua và trong đó đều để đơn vị nào phong cấp (WXF hay AXF). Thuật ngữ IGM có nghĩa là International Grand Master (để phân biệt với Grand Master của châu Á).

Theo quy chế hiện nay, Liên đoàn cờ châu Á (AXF) tổ chức xét chứng nhận các chức danh QTĐS, ĐC.QTĐS theo định kỳ mỗi năm. Còn với Liên đoàn cờ thế giới (WXF) thì họ tổ chức xét chứng nhận danh hiệu 2 năm/lần. Do vậy, người viết sẽ liệt kê năm đạt chuẩn của kỳ thủ, nghĩa là bỏ qua thời gian xét duyệt vì như ta cũng biết khâu xét duyệt của WXF hay AXF khá lâu. Nếu so sánh 2 danh hiệu QTĐS của Á châu và Thế giới thì tất nhiên danh hiệu do Liên đoàn cờ thế giới phong tặng sẽ cao quý hơn, bởi vì Liên đoàn cờ thế giới có nhiều Liên đoàn thành viên và mang tính rộng khắp hơn Á châu. Hiện nay, WXF có 25 thành viên, còn AXF có 17 thành viên. Danh hiệu QTĐS của liên đoàn cờ Á châu và Liên đoàn cờ thế giới thường được xem như là một, chỉ khác là đơn vị nào phong cấp mà thôi.

Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta cùng tìm hiểu qua các nội dung sau:

1/ Ai có thẩm quyền phong cấp?

Trên thế giới hiện nay, có 2 tổ chức có thẩm quyền phong cấp các danh hiệu này, đó là: – Liên đoàn cờ tướng Thế giới phong 3 cấp, theo thứ tự từ cao xuống thấp: ĐC.QTĐS (Đại kiện tướng thế giới-IGM), QTĐS (Kiện tướng thế giới-IM), Liên Đoàn QTĐS (Kiện tướng liên đoàn-FM) – Liên đoàn cờ tướng Á châu phong 2 cấp: AC.ĐCĐS (Đại kiện tướng châu Á-GM), ACĐS (Kiện tướng châu Á-M).

2/ Dựa vào tiêu chí nào để phong cấp?

Nhìn chung, tiêu chí phong cấp của Liên đoàn cờ châu Á và thế giới đều gần như nhau. Và cứ vài năm, mỗi tổ chức trên lại tổ chức họp nội bộ để điều chỉnh điều kiện phong cấp. Giải cá nhân châu Á tổ chức vào năm lẻ, còn giải đồng đội châu Á thì tổ chức vào năm chẵn. Riêng với giải thế giới thì tổ chức 2 năm/lần vào năm lẻvà mỗi lần tổ chức đều có 2 nội dung thi đấu (cá nhân, đồng đội). Cập nhật cách thức phong cấp gần nhất tại thời điểm hoàn thành bài viết này (3/2013), ta có các tiêu chí như sau:

– Nếu thi đấu giải cá nhân châu Á: 

+ Kiện tướng liên đoàn: Kiện tướng nào có huy chương Quốc gia (Vàng, Bạc, Đồng), thi đấu tại giải đạt 75% điểm thì phong Kiện tướng liên đoàn (FM)
+ Quốc tế đại sư (châu Á): Kiện tướng nào có huy chương Quốc gia (Vàng, Bạc, Đồng), thi đấu tại giải đủ 80% trên tổng ván đấu, tỉ lệ số ván thắng đạt 60% thì sẽ được phong QTĐS. Hoặc nếu vừa đoạt huy chương tại giải châu Á (Vàng, Bạc, Đồng), vừa thỏa chuẩn điểm (70%) thì được phong QTĐS
+ Đặc cấp đại sư (châu Á): Kiện tướng nào có huy chương Quốc gia (Vàng, Bạc, Đồng), đã đạt chuẩn điểm QTĐS trước. Sau đó, trong chuẩn thứ hai, thỏa: chơi đủ 80% số ván đấu, tỉ lệ thắng đạt 70% .

– Nếu thi đấu giải đồng đội châu Á: (do còn thiếu tài liệu tham khảo nên vẫn chưa hoàn thiện mục này)
– Nếu thi đấu giải thế giới: tại giải này có 2 thể loại cá nhân và đồng đội  (chưa hoàn thiện mục này)
– Nếu đạt thành tích cao tại giải trẻ thế giới: (chưa hoàn thiện mục này)   3/ 
Ở nước ta, đã có bao nhiêu người được phong cấp đại sư?
Câu trả lời có thể nói là khá nhiều. Để cho tiện theo dõi, người viết sẽ dùng ký hiệu tiếng Anh để thay cho các cụm từ “Quốc Tế Đại Sư” và “Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư”.

*Danh hiệu do Liên đoàn cờ tướng thế giới phong tặng (không phân biệt nam, nữ):
– Về danh hiệu IGM (Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư), có các danh thủ:
+ Nguyễn Vũ Quân (đã mất), đạt danh hiệu năm 2005 sau chiếc HCĐ giải cá nhân thế giới cùng chiếc HCB đồng đội, tổ chức tại Paris (Pháp).
+ Nguyễn Thành Bảo (HN), đạt danh hiệu năm 2007 sau chiếc HCĐ giải cá nhân thế giới cùng chiếc HCB đồng đội, tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc). (Đáng lẽ Việt Nam ta có thêm một IGM nữa, đó là cố danh thủ Mai Thanh Minh. Tuy nhiên, do hồ sơ của ông bị thất lạc nên liên đoàn cờ thế giới không sắc phong được).

– Về danh hiệu IM (Quốc Tế Đại Sư), có các danh thủ:
+ Trềnh A Sáng (HCM): được phong năm 1999
+ Trương Á Minh (TP.HCM): được phong năm 2002
+ Đặng Hùng Việt (HN, đã mất): được phong vào năm 2003, sau thành tích hạng 7 giải thế giới được tổ chức ở Hồng Kông (Đoàn Việt Nam có ba kỳ thủ là Đặng Hùng Việt, Trần Đình Thuỷ và Phạm Thu Hà).
+ Ngô Lan Hương (HCM): được phong vào năm 2007 sau chiếc HCB thế giới
+ Lại Lý Huynh (Bình Dương): được phong năm 2009 sau chiếc HCB đồng đội thế giới
+ Nguyễn Hoàng Yến (TP.HCM): được phong năm 2011 sau chiếc HCB cá nhân thế giới.

– Về danh hiệu FM (Kiện tướng liên đoàn), có các danh thủ:
+ Mai Thanh Minh (TP.HCM, đã mất):
+ Võ Văn Hoàng Tùng (Đà Nẵng): đạt danh hiệu năm 1995
+ Trần Văn Ninh (Đà Nẵng): đạt danh hiệu năm 1993
+ Lê Thị Hương (TP.HCM): đạt danh hiệu năm 1993 sau khi đạt hạng 4 giải vô địch thế giới ở Bắc Kinh
+ Châu Thị Ngọc Giao (Bình Định)
+ Võ Minh Nhất (Bình Phước)

*Danh hiệu do Liên đoàn cờ tướng châu Á phong tặng (không phân biệt nam, nữ):
– Về danh hiệu Grand Master (Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư), có các danh thủ:
+ Trềnh A Sáng (HCM): HCV Đông Nam Á tại Philippines năm 1996, HCB đồng đội giải vô địch châu Á tại Malaysia năm 2000
+ Trương Á Minh (HCM):
+ Lê Thị Hương (HCM): Năm 1993, giành hạng 3 giải Các danh thủ châu Á tại Thái Lan, rồi được phong ngay là GM. Chị là nữ kỳ thủ đầu tiên của VN được phong Đặc cấp quốc tế đại sư
+ Nguyễn Hoàng Lâm: Năm 2004, đạt chuẩn GM (trước 1 vòng đấu) sau khi giành HCB giải vô địch đồng đội châu Á ở Bắc Kinh. Năm 2010 đoạt HCB nội dung đồng đội tại giải đồng đội Châu Á lần thứ 16 tại Malaysia. Năm 2011, giành HCV giải cá nhân châu Á.

– Về danh hiệu Master (Quốc Tế Đại Sư), có các danh thủ:
Phía các nam kỳ thủ: có
+ Mai Thanh Minh (TP.HCM, đã mất): Chính ông là người đã làm rạng danh làng cờ VN với giải hạng 3 thế giới tranh cúp Phật thừa (Hawaii 1999) và giải nhất Phi Hoa Duệ (nghĩa là không phải hậu duệ người Hoa). Ông cũng là người đầu tiên của VN vinh dự được phong Quốc tế đại sư. Cùng với các đồng đội của mình, Mai Thanh Minh từng đoạt HCĐ giải hạng 3 đồng đội thế giới 2000, 2 HCB đồng đội châu Á 1994, 1998
+ Lê Thiên Vị (HCM): đạt danh hiệu năm 1995 với tấm HCB Phi Hoa Duệ.
+ Mông Nhi (Bình Phước): đạt danh hiệu năm 1998 sau thành tích HCB giải đồng đội châu Á.
+ Diệp Khai Nguyên (HCM):
+ Trần Văn Ninh (ĐN): đạt danh hiệu năm 1998 sau thành tích HCB giải đồng đội châu Á. Năm 2002, đạt hạng 4 giải vô địch cá nhân châu Á.
+ Võ Văn Hoàng Tùng (Đà Nẵng): đạt danh hiệu năm 2002
+ Đào Quốc Hưng (TP.HCM): đạt danh hiệu năm 2003 sau khi đoạt HCB giải vô địch cá nhân Châu Á.
+ Võ Văn Hoàng Tùng (Đà Nẵng):
+ Lại Tuấn Anh (HN) + Đào Cao Khoa (HN)
+ Nguyễn Trần Đỗ Ninh (HCM): đạt danh hiệu năm 2009 sau thành tích hạng 6 giải cá nhân châu Á tổ chức tại Malaysia
+ Trần Chánh Tâm (HCM): đạt danh hiệu năm 2009 sau thành tích hạng 6 giải cá nhân châu Á tổ chức tại Malaysia
+ Tôn Thất Nhật Tân (Đà Nẵng):
+ Lại Lý Huynh (Bình Dương)
+ Bùi Dương Trân (Hà Nội)
+ Nguyễn Thành Bảo (Hà Nội)

Phía nữ, có các kỳ thủ:
+ Hoàng Thị Hải Bình (HCM): Đạt danh hiệu năm 1998 sau thành tích HCĐ giải cờ tướng châu Á tổ chức lần X. Năm 2002 tiếp tục giành HCB giải vô địch cá nhân châu Á.
+Châu Thị Ngọc Giao (Bình Định): đạt danh hiệu năm 2002
+Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Bình Định):
+ Nguyễn Hoàng Yến (HCM):
+ Đàm Thị Thùy Dung (HCM): đạt danh hiệu năm 2007 sau khi đoạt HCB giải cá nhân châu Á tổ chức tại Indonesia
+ Ngô Lan Hương (HCM)

V.T (tổng hợp và lược dịch)

Nguồn: Trang LĐ Cờ Việt Nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s